Giám đốc thẩm và tái thẩm là hai thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự, cho phép xem xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có căn cứ pháp lý đặc biệt. Dù cùng hướng đến mục tiêu bảo đảm công lý được thực thi đúng đắn, hai thủ tục này có sự khác biệt quan trọng về căn cứ áp dụng. Bài viết này phân tích, so sánh chi tiết hai thủ tục này theo Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
1. Điểm chung của giám đốc thẩm và tái thẩm
Cả giám đốc thẩm và tái thẩm đều là thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật — đây là điểm khác biệt căn bản so với thủ tục phúc thẩm (chỉ áp dụng đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật). Cả hai đều không phải là một cấp xét xử độc lập, mà là thủ tục đặc biệt chỉ được tiến hành khi có kháng nghị của người có thẩm quyền theo luật định.
2. Giám đốc thẩm
2.1. Khái niệm và căn cứ kháng nghị
Như đã phân tích ở bài viết trước về các khoản phí phát sinh khi kháng nghị giám đốc thẩm, giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Theo Điều 371 BLTTHS, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ: kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Như vậy, bản chất của giám đốc thẩm là “chữa lỗi” phát hiện và khắc phục những sai sót về mặt pháp lý, tố tụng hoặc đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án trước đó, chứ không phải xem xét dựa trên những tình tiết, chứng cứ hoàn toàn mới chưa từng được biết đến.
3. Tái thẩm
3.1. Khái niệm và căn cứ kháng nghị
Theo Điều 397 BLTTHS, tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó. Các căn cứ để kháng nghị tái thẩm bao gồm: có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật; có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án; vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật; những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy, bản chất của tái thẩm là xuất hiện tình tiết mới những sự thật, chứng cứ mà tại thời điểm giải quyết vụ án trước đó, cơ quan tiến hành tố tụng không biết đến, dẫn đến kết quả giải quyết vụ án không phản ánh đúng sự thật khách quan.
4. So sánh giám đốc thẩm và tái thẩm
| Tiêu chí | Giám đốc thẩm | Tái thẩm |
|---|---|---|
| Bản chất | Chữa lỗi về pháp lý, tố tụng, đánh giá chứng cứ đã có trong hồ sơ | Xem xét lại do xuất hiện tình tiết mới chưa từng được biết đến |
| Căn cứ | Kết luận không phù hợp tình tiết khách quan; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật | Chứng cứ, lời khai, kết luận giám định sai sự thật; tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung vụ án |
| Tính chất chứng cứ | Dựa trên hồ sơ, chứng cứ đã có sẵn trong vụ án | Dựa trên tình tiết, chứng cứ mới phát hiện sau khi bản án có hiệu lực |
| Cơ sở pháp lý | Điều 370-393 BLTTHS | Điều 397-412 BLTTHS |
5. Thẩm quyền kháng nghị
Đối với cả hai thủ tục, thẩm quyền kháng nghị thuộc về: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp (trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao); Người bị kết án, bị hại, đương sự không có quyền trực tiếp kháng nghị mà chỉ có quyền làm đơn đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị.
Xét xử, kháng cáo, kháng nghị và thi hành án hình sự: Quy trình đầy đủ
6. Thẩm quyền xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán hoặc toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, cấp khu vực trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
7. Thời hạn kháng nghị
Đối với giám đốc thẩm: việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
Đối với tái thẩm: thời hạn kháng nghị tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 BLHS và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện; kháng nghị tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian.
8. Kết quả xem xét giám đốc thẩm, tái thẩm
Sau khi xem xét, Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có thể ra một trong các quyết định: không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa không đúng; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
9. Vai trò của luật sư trong việc theo đuổi thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
Do tính chất phức tạp, đặc biệt của hai thủ tục này, việc phân tích chính xác vụ việc thuộc trường hợp cần kháng nghị giám đốc thẩm (do có sai sót về pháp lý, tố tụng) hay tái thẩm (do có tình tiết mới), xây dựng hồ sơ, luận cứ thuyết phục để đề nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị, đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn của luật sư. Đây là công việc pháp lý phức tạp bậc nhất trong lĩnh vực tố tụng hình sự, cần được thực hiện bởi luật sư có chuyên môn, kinh nghiệm vững vàng.
10. Kết luận
Giám đốc thẩm và tái thẩm là hai thủ tục đặc biệt quan trọng, tạo cơ chế “an toàn cuối cùng” để khắc phục những sai sót nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, dù xuất phát từ sai lầm về pháp lý, tố tụng (giám đốc thẩm) hay từ tình tiết mới được phát hiện (tái thẩm). Việc hiểu rõ sự khác biệt giữa hai thủ tục này giúp người có nhu cầu xác định đúng hướng đề nghị, tăng khả năng vụ việc được xem xét thấu đáo. Nếu bạn cho rằng có căn cứ để đề nghị xem xét lại một bản án đã có hiệu lực pháp luật, hãy liên hệ luật sư có kinh nghiệm để được tư vấn, hỗ trợ.
Xem thêm: Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự: Trình tự thủ tục
Luật sư Hình sự – Bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong các vụ án hình sự
VN-LAW.VN do Luật sư Trần Duy Huy sáng lập. ĐẶC BIỆT GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THỪA KẾ – DI CHÚC – ĐẤT ĐAI PHỨC TẠP:
- Đất đai – Bất động sản
- Thừa kế – Di chúc
- Hôn nhân – Gia đình
- Hình sự
Chúng tôi hỗ trợ khách hàng xác minh tính hợp pháp của quan hệ nuôi con nuôi, soạn thảo hồ sơ khai nhận di sản, và đại diện giải quyết tranh chấp thừa kế. Liên hệ ngay để được tư vấn cụ thể.
Email: tvpl@vn-law.vn
Địa chỉ: 286 Nguyễn Oanh, Phường Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh









