Trong lý luận và thực tiễn pháp luật hình sự, không phải mọi hành vi phạm tội đều đạt đến giai đoạn hoàn thành (tức là thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được mô tả trong điều luật). Bộ luật Hình sự Việt Nam ghi nhận các giai đoạn thực hiện tội phạm khác nhau, trong đó “chuẩn bị phạm tội” và “phạm tội chưa đạt” là hai giai đoạn quan trọng, phản ánh mức độ hoàn thành khác nhau của hành vi phạm tội và có chính sách xử lý riêng biệt. Bài viết này phân tích khái niệm, đặc điểm pháp lý và quy định về trách nhiệm hình sự đối với hai giai đoạn phạm tội này.
1. Các giai đoạn thực hiện tội phạm
Theo lý luận luật hình sự, quá trình thực hiện một tội phạm cố ý có thể trải qua các giai đoạn: (1) chuẩn bị phạm tội, (2) phạm tội chưa đạt, (3) tội phạm hoàn thành. Lưu ý rằng các giai đoạn này chỉ đặt ra đối với tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp); đối với tội phạm thực hiện do lỗi vô ý, không tồn tại các giai đoạn chuẩn bị phạm tội hay phạm tội chưa đạt, vì bản chất của lỗi vô ý là người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra.
2. Chuẩn bị phạm tội
2.1. Khái niệm
Theo khoản 1 Điều 14 BLHS 2015, chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.
Như vậy, chuẩn bị phạm tội bao gồm các dạng hành vi cụ thể như: mua sắm, chế tạo, sửa chữa công cụ, phương tiện dùng để phạm tội (ví dụ: mua hung khí, mua thuốc độc, sửa chữa xe để dùng vào việc gây tai nạn có chủ đích); thăm dò, khảo sát địa điểm, thời điểm thực hiện tội phạm; lôi kéo, rủ rê, chuẩn bị nhân sự tham gia; loại trừ trước những trở ngại khách quan có thể cản trở việc thực hiện tội phạm…
2.2. Đặc điểm pháp lý
Điểm đặc trưng của giai đoạn chuẩn bị phạm tội là hành vi khách quan chưa trực tiếp xâm phạm đến đối tượng tác động của tội phạm, tức là chưa bắt đầu thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm cụ thể (ví dụ: chưa có hành vi dùng dao đâm nạn nhân, chưa có hành vi lấy tài sản…). Hành vi chuẩn bị chỉ mới tạo ra các điều kiện, tiền đề thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm sau đó.
2.3. Trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội
Khoản 2 Điều 14 BLHS quy định: “Người chuẩn bị phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự: (a) Chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này; (b) Chuẩn bị phạm một tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.” Như vậy, không phải mọi hành vi chuẩn bị phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự, pháp luật chỉ xử lý hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm các tội danh đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm an ninh quốc gia, tính mạng, sức khỏe con người, hoặc các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng khác được liệt kê cụ thể, hoặc chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng/đặc biệt nghiêm trọng nói chung.
Về hình phạt, khoản 3 Điều 14 BLHS quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123 (tội giết người) hoặc Điều 168 (tội cướp tài sản). Mức hình phạt đối với chuẩn bị phạm tội thường thấp hơn đáng kể so với tội phạm hoàn thành, được quy định cụ thể trong từng điều luật tương ứng hoặc theo nguyên tắc chung tại Điều 57 BLHS về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.
3. Phạm tội chưa đạt
3.1. Khái niệm
Theo Điều 15 BLHS 2015, phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
Ba dấu hiệu pháp lý quan trọng để xác định phạm tội chưa đạt: (1) người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm (đã “bắt tay vào việc thực hiện tội phạm”, khác với giai đoạn chuẩn bị mới chỉ tạo điều kiện); (2) hành vi phạm tội không được thực hiện đến cùng, tức là không đạt được hậu quả hoặc không hoàn thành đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm; (3) nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện được đến cùng là ngoài ý muốn của người phạm tội (ví dụ: bị phát hiện, bị ngăn chặn, công cụ phạm tội bị hỏng, nạn nhân chống trả thoát được, bị bắt giữ giữa chừng…).
3.2. Phân biệt phạm tội chưa đạt với tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Cần đặc biệt lưu ý phân biệt phạm tội chưa đạt với “tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội” (Điều 16 BLHS) trường hợp người phạm tội tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Đây là điểm khác biệt cốt lõi: ở phạm tội chưa đạt, việc không hoàn thành tội phạm là do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn; còn ở tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, chính người phạm tội tự nguyện dừng lại dù vẫn có khả năng tiếp tục thực hiện. Hậu quả pháp lý của hai trường hợp này khác nhau đáng kể: người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
3.3. Các dạng phạm tội chưa đạt
Lý luận luật hình sự phân biệt hai dạng phạm tội chưa đạt: phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành (người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả, ví dụ: đang rút dao ra thì bị người khác giữ tay lại) và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành (người phạm tội đã thực hiện hết các hành vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả, nhưng hậu quả vẫn không xảy ra vì nguyên nhân khách quan, ví dụ: đã bắn nhưng đạn không trúng nạn nhân hoặc nạn nhân được cấp cứu kịp thời không chết).
3.4. Trách nhiệm hình sự đối với phạm tội chưa đạt
Điều 15 BLHS quy định: người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. Khác với chuẩn bị phạm tội (chỉ bị xử lý hình sự trong một số trường hợp giới hạn), phạm tội chưa đạt luôn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không phân biệt loại tội phạm là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng.
Về mức hình phạt, Điều 57 BLHS quy định nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt: đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định. Quy định này thể hiện chính sách hình sự khoan hồng hơn đối với trường hợp tội phạm chưa gây ra hậu quả thực tế, so với trường hợp tội phạm đã hoàn thành.
Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015: Những điểm cần biết
4. Ý nghĩa của việc xác định đúng giai đoạn phạm tội
Việc xác định chính xác một hành vi cụ thể đang ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, hay đã hoàn thành có ý nghĩa pháp lý vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến:
- Việc có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không (đặc biệt đối với giai đoạn chuẩn bị phạm tội, chỉ một số tội danh, một số điều kiện nhất định mới bị xử lý hình sự).
- Mức hình phạt được áp dụng (phạm tội chưa đạt, chuẩn bị phạm tội thường được áp dụng hình phạt nhẹ hơn tội phạm hoàn thành theo nguyên tắc tại Điều 57 BLHS).
- Việc định tội danh chính xác, tránh tình trạng truy cứu quá mức (coi hành vi chưa đạt là hoàn thành) hoặc bỏ lọt tội phạm (coi hành vi đã đủ yếu tố cấu thành là chưa đạt).
Trong thực tiễn xét xử, việc phân định ranh giới giữa các giai đoạn này, đặc biệt là giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, hoặc giữa phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, thường gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phân tích kỹ lưỡng diễn biến hành vi thực tế, ý chí chủ quan của người phạm tội, và các tình tiết khách quan của từng vụ việc cụ thể.
5. Kết luận
Chế định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt phản ánh nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự dựa trên mức độ hoàn thành thực tế của hành vi phạm tội, đồng thời thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước xử lý nghiêm khắc nhất đối với tội phạm đã hoàn thành, khoan hồng hơn đối với các giai đoạn chưa hoàn thành. Việc xác định chính xác giai đoạn phạm tội trong một vụ việc cụ thể là công việc pháp lý phức tạp, đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu và kinh nghiệm thực tiễn. Nếu bạn hoặc người thân đang liên quan đến một vụ việc có yếu tố này, việc tham khảo ý kiến luật sư hình sự ngay từ giai đoạn đầu sẽ giúp bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp.
Xem thêm: Miễn trách nhiệm hình sự: Các trường hợp theo quy định pháp luật
Luật sư Hình sự – Bào chữa, bảo vệ quyền lợi trong các vụ án hình sự
VN-LAW.VN do Luật sư Trần Duy Huy sáng lập. ĐẶC BIỆT GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THỪA KẾ – DI CHÚC – ĐẤT ĐAI PHỨC TẠP:
- Đất đai – Bất động sản
- Thừa kế – Di chúc
- Hôn nhân – Gia đình
- Hình sự
Chúng tôi hỗ trợ khách hàng xác minh tính hợp pháp của quan hệ nuôi con nuôi, soạn thảo hồ sơ khai nhận di sản, và đại diện giải quyết tranh chấp thừa kế. Liên hệ ngay để được tư vấn cụ thể.
Email: tvpl@vn-law.vn
Địa chỉ: 286 Nguyễn Oanh, Phường Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh









